
Giành lại sự bất khả kiến: Quyền riêng tư là điều cấp thiết trong crypto
Mục lục
- Giới thiệu
- Tính tất yếu của chủ nghĩa tân tự do
- Thế giới toàn trị
- Auto-panopticon và sự giám sát tự áp đặt
- Lời hứa tan vỡ của Bitcoin: Khuếch đại panopticon
- Các cypherpunk
- Cuộc chiến xây dựng với quyền riêng tư là ưu tiên hàng đầu
- Các cuộc chiến pháp lý
- Các cuộc chiến triết học
- Con đường thực sự dẫn đến thay đổi
- Hồi sinh tinh thần cypherpunk
Xin chân thành cảm ơn Mert, Matt, Tilo và Brady đã góp ý cho các bản thảo trước của bài viết này.
Giới thiệu
Giám sát không còn là thứ bị áp đặt. Thay vào đó, nó đã trở thành cơ sở hạ tầng. Chúng ta đang sống trong một thế giới nơi tính minh bạch được đạo đức hóa, sự hiện diện hữu hình báo hiệu đức hạnh, còn kiến trúc tài chính và danh tính hợp nhất thành một tấm gương toàn tri.
Điều này được quảng bá là “cởi mở”. Nếu bạn không làm gì sai thì chẳng có gì phải che giấu. Đúng không? Thực chất, đây là một auto-panopticon: hệ thống tự duy trì dựa trên việc tự nguyện phơi bày bản thân, nơi tháp canh đã được thay bằng bảng tin, sổ cái và dashboard. Chúng ta tự giám sát mình rồi gọi đó là tự do.
Crypto từng là mùa hè được hứa hẹn sau một mùa đông dài. Nó được kỳ vọng sẽ phá vỡ sự phụ thuộc vào các thế lực tập trung và trao lại chủ quyền cho mỗi cá nhân. Nó được kỳ vọng sẽ mở ra thay đổi—thay đổi thực sự—nhưng ở đâu đó trên hành trình, nó lại tái tạo logic của chính hệ thống mà mình chống lại. Bitcoin khiến hoạt động tài chính trở nên minh bạch. Tuy nhiên, điều đó cũng khiến nó vĩnh viễn có thể bị truy vết. Giấc mơ giải phóng biến thành một chuỗi lưu ký ghi lại hành vi, mối liên hệ và ý định để tất cả mọi người soi xét.
Nếu crypto được tạo ra để giải phóng chúng ta, tại sao nó lại trở thành một công cụ giám sát khác? Tại sao chúng ta lại tự do và tự nguyện phơi bày mọi khía cạnh của cuộc sống trước chính hệ thống mà mình muốn thay thế?
Quyền riêng tư không còn giá trị nữa sao?
Quyền riêng tư không phải là sự vắng mặt của dữ liệu. Đúng hơn, đó là sự khước từ việc bị thu thập. Con đường khước từ thực sự duy nhất trong thời đại số là giành lại sự bất khả kiến, giành lại quyền tồn tại bên ngoài ánh nhìn của thuật toán. Quyền được sống mà không bị lập chỉ mục, vượt khỏi cỗ máy, có tầm quan trọng tối thượng nhưng dường như đã bị lãng quên trong nỗ lực phổ biến crypto. Chúng ta phải đấu tranh để khôi phục mục đích của crypto, và sự bất khả kiến là hình thức phản kháng triệt để nhất.
Để bắt đầu quá trình phản kháng này, chúng ta cần vượt qua khuynh hướng tân tự do của mình.
Tính tất yếu của chủ nghĩa tân tự do
Sự sụp đổ của Liên Xô đánh dấu hồi kết của Chiến tranh Lạnh và của phương án khả thi duy nhất thay thế chủ nghĩa tư bản. Đó chưa bao giờ đơn thuần là cuộc đối đầu giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản, mà là sự căng thẳng giữa các hệ thống khả thể. Khi một bên sụp đổ, bên còn lại không còn cần biện minh cho chính mình. Chủ nghĩa tư bản ngừng là một hệ tư tưởng và trở thành môi trường, thành chính bầu không khí chúng ta hít thở.
Trật tự thế giới tân tự do đã thống trị tuyệt đối, khi một số học giả như Francis Fukuyama tuyên bố đó là hồi kết của lịch sử. Quan niệm này cho rằng nhân loại đã tiến hóa tới mức việc phổ quát hóa nền dân chủ tự do phương Tây đánh dấu hình thái chính quyền cuối cùng của loài người. Không còn lựa chọn thay thế, chỉ còn những phương án tối ưu hóa trong một tương lai được quản lý. Một khi chính trị bị giản lược thành bài toán tối ưu hóa, mọi ranh giới đều có thể thương lượng, kể cả ranh giới lâu đời nhất giữa công và tư. Bản thân rào cản này bắt đầu bị xem là sự kém hiệu quả, là ma sát cần được kỹ thuật hóa để xóa bỏ, trước tiên trong thị trường rồi đến trong bản ngã.
Dĩ nhiên, nền dân chủ tự do phương Tây (tức trật tự thế giới chiến thắng), vốn đã trở thành từ đồng nghĩa với chủ nghĩa tân tự do, không ra đời vào năm 1991. Nó được kiến tạo vào cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80 bởi những nguyên thủ gây chia rẽ, cụ thể là Ronald Reagan và Margaret Thatcher, những người đã biến thị trường tự do thành chân lý đạo đức và dùng nó như một vũ khí. Nhà nước là vấn đề. Đời sống công cộng kém hiệu quả. Tự do đồng nghĩa với cạnh tranh. Thatcher từng tuyên bố nổi tiếng rằng xã hội không tồn tại, chỉ có các cá nhân và gia đình.
Và chỉ như thế, tập thể bị tháo dỡ. Phúc lợi trở thành sự phụ thuộc, công cộng đồng nghĩa với kém hiệu quả, còn đoàn kết trở nên đáng ngờ. Bàn tay vô hình được tôn lên vị trí tối cao, xứng đáng nhận mọi vinh quang và lời ca tụng cho sự thịnh vượng hiện tại. Mọi thứ, từ trường học đến các mối quan hệ, đều được hình dung lại qua lăng kính và logic của thị trường. Đổi mới thực sự của chủ nghĩa tân tự do là tư hữu hóa ham muốn. Khi thị trường đã xâm chiếm chính ham muốn, sự phản kháng trở thành điều không thể hình dung. Những gì theo sau không phải một trật tự kinh tế hay chính trị, mà là một trật tự tâm lý với sức lan tỏa đầy hiểm ác.
Thế giới toàn trị
Qua nhiều thập niên, hệ thống không còn cần biện minh cho chính mình. Thay vào đó, nó trở thành tâm thế văn hóa, một siêu hình học của đời sống thường nhật. Chúng ta sống trong bầu không khí của sự hối hả, tối ưu hóa và sản xuất. Dù đây là một văn hóa rất phù hợp với startup, nó trở nên độc hại khi được áp dụng theo cách toàn trị lên mọi mặt của cuộc sống.
Mark Fisher đã khái niệm hóa hiện thực đau đớn này trong tác phẩm nền tảng Capitalist Realism: Is There No Alternative? Ông cho rằng chủ nghĩa tư bản đã trở thành một bầu không khí bao trùm, tác động đến sản xuất văn hóa, hoạt động kinh tế và tư duy nói chung. Mọi thứ, bất kể ủng hộ hay phản đối, đều tìm cách củng cố thế giới quan hiện tại. Ham muốn của con người đã trở nên tương thích với chủ nghĩa tư bản—chúng ta muốn xe nhanh, quần áo đẹp hoặc sự giàu có vì mục đích vị tha là chăm lo cho người khác. Chỉ có thế. Chúng ta đã giải quyết xong chính trị. Mọi lựa chọn khác gần như trở nên không thể hình dung.
Hãy nhìn vào cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, đám cháy và tro tàn mà từ đó Bitcoin ra đời. Chúng ta đã cứu trợ các ngân hàng. Không phải vì họ có năng lực, không phải vì họ chỉ mắc một sai lầm vô tình, cũng không phải vì đó là điều đúng đắn—chúng ta cứu họ vì ranh giới giữa nhà nước và hệ thống ngân hàng đã tan biến từ trước. Các ngân hàng không phải những chủ thể tư nhân thất bại trong thị trường tự do. Chúng đan xen với bảo lãnh công, các tổ chức thế chấp do chính phủ tài trợ và một ngân hàng trung ương xem sự sống còn của chúng đồng nghĩa với sự sống còn của nền kinh tế. Vì thế, thất bại là điều không thể hình dung. Đó là dấu hiệu của chủ nghĩa hiện thực tư bản: khi một tổ chức đã gắn kết quá sâu để có thể sụp đổ, câu hỏi liệu nó có đáng bị sụp đổ hay không thậm chí không còn được phép đặt ra.
Chúng ta sống trong một thế giới hậu chính trị, nơi chủ nghĩa tư bản tồn tại trong một hiện thực kiểu Lacan—một cách hiểu thế giới dựa trên hệ tư tưởng, bác bỏ những sự thật không phù hợp với cách diễn giải hiện tại. Có lựa chọn nào tốt hơn hiện trạng không? Dĩ nhiên là có. Tin điều ngược lại chỉ là quan điểm quá bi quan và ngây thơ rằng đây chính là đỉnh cao hoàn chỉnh của sự phát triển con người.
Ngay cả hành động phản kháng đơn thuần cũng tìm cách củng cố trật tự thế giới hiện tại. Chẳng hạn, Fisher viết về sự uể oải và phẫn nộ khủng khiếp của Kurt Cobain, thứ đã cất tiếng thay cho nỗi tuyệt vọng của thế hệ xuất hiện sau thời điểm hồi kết lịch sử được tuyên bố. Một thế hệ mà mọi hành động đều bị dự đoán, theo dõi, mua và bán trước cả khi nó diễn ra. Cobain chỉ là một phần khác của cảnh tượng. Điều gì giúp MTV kiếm nhiều tiền hơn một cuộc phản đối của một trong những ban nhạc nổi tiếng nhất, vừa nói địt mẹ MTV vừa xuất hiện trên MTV? Dần dần, mọi thứ trở thành sáo rỗng. Mong muốn đưa ra một phương án thay thế thuyết phục dần chuyển thành nỗ lực giảm nhẹ những tác động tồi tệ nhất của hệ thống.
Thế giới giờ đây tự quy chiếu. Mọi cuộc phản đối đều trở thành chiến dịch. Mọi lời phê bình đều trở thành nội dung. Mọi hành động phản kháng đều trở thành một danh mục sản phẩm mới. Chúng ta sống và hít thở bên trong chủ nghĩa tư bản, một dạng rất đặc thù chịu ảnh hưởng nặng nề của chủ nghĩa tư bản thân hữu.
Trong bầu không khí này, ranh giới giữa kinh tế và danh tính đã xói mòn. Thị trường thâu tóm cả những gì chúng ta mua lẫn con người chúng ta, biến ý nghĩa thành hàng hóa. Tin nhắn của Elon gửi Parag Agrawal hoàn toàn có thể được xem là thánh thư meme định hình tinh thần thời đại. Sống là sản xuất. Tồn tại là trình diễn. Trong màn trình diễn vĩ đại này, tính minh bạch trở thành đức hạnh cao nhất, thể hiện qua dashboard, chỉ số và bảng tin. Sự hiện diện hữu hình trở thành một phạm trù đạo đức: được nhìn thấy đang sản xuất là tốt, minh bạch là đáng tin. Một cách tự nhiên, điều này khiến mọi cú nhấp chuột, giao dịch mua và chuyển động trở thành hành vi sùng tín phụng sự thuật toán.
Chúng ta bắt đầu nội hóa hệ thống khi việc đạo đức hóa sự hiện diện hữu hình ngày càng mạnh. Những đòi hỏi phải trình diễn, tối ưu hóa và định lượng đòi hỏi các kiến trúc quyền lực mới. Kiến trúc phù hợp nhất với nhu cầu của chúng ta đã có tên từ nhiều thế kỷ trước: panopticon.
Auto-panopticon và sự giám sát tự áp đặt
Panopticon ban đầu là một nhà tù. Vào thế kỷ 18, triết gia kiêm nhà lý luận xã hội người Anh Jeremy Bentham đã thiết kế một công trình thể chế với hệ thống kiểm soát tích hợp. Ý tưởng này đơn giản đến rợn người: xây một tòa nhà hình tròn với đài quan sát ở trung tâm. Nó cũng có thể áp dụng cho nhà máy, trường học, nhà thương điên, viện điều dưỡng và bệnh viện, nhưng Bentham quan tâm nhất đến việc áp dụng ý tưởng này cho nhà tù. Hãy tưởng tượng Barad-dûr nằm giữa một vòng tròn phòng giam hoàn hảo. Tù nhân không biết mình có đang bị theo dõi hay không, nên luôn có động lực hành xử như thể lúc nào cũng bị theo dõi.
Michel Foucault lấy panopticon của Bentham và biến nó thành ẩn dụ cho xã hội hiện đại. Giám sát không còn cần đến những bức tường—nó tồn tại trong trường học, nhà máy, tổ chức và văn phòng. Nó hiện diện trên đường phố dưới dạng camera CCTV của Anh (thật trớ trêu khi chính xã hội này cũng sản sinh ra V for Vendetta và 1984). Quyền lực không còn cần bạo lực, vì chúng ta đã học cách tự kiểm soát mình. Ánh nhìn giám sát đã được nội hóa.
Byung-Chul Han đưa phân tích này tiến thêm một bước. Trong Psychopolitics, Han lập luận rằng quyền lực kỷ luật, ngay cả ở dạng đã được nội hóa theo Foucault, vẫn giả định có một cấu trúc bên ngoài. Tức là những bức tường, lính canh, tổ chức, một tháp canh đâu đó. Tâm lý chính trị, kẻ kế nhiệm của nó, vận hành thông qua tự do thay vì chống lại tự do. Chúng ta tự nguyện bóc lột chính mình và trải nghiệm sự tự bóc lột đó như một hình thức tự hiện thực hóa. Kiệt sức trở thành bệnh lý đặc trưng của tình trạng này, đại diện cho sự cạn kiệt của một chủ thể đã trở thành đốc công của chính mình. Không có lính canh nào để lật đổ; bạn chính là lính canh, và bạn đã học được cách thực sự yêu công việc của mình, ngay cả khi nó khiến bạn mệt mỏi.
Trong The Transparency Society, Han lập luận rằng tính minh bạch là quyền lực ở dạng đương đại nhất. Một xã hội đã đạo đức hóa khả năng hiển thị toàn diện cũng đã hoàn thiện nó, xóa tan tính bí mật, sự huyền bí và tha nhân bất khả tri mà chính trị và nhân vị đích thực đòi hỏi.
Giờ đây, chúng ta đã xây dựng một thứ hiệu quả hơn panopticon rất nhiều: auto-panopticon, một hệ thống trong đó chúng ta tự nguyện tham gia vào việc quan sát chính mình. Dĩ nhiên, điều này nghe thật vô lý. Tại sao có người lại tự nguyện đăng ký để bị giám sát? Nói đơn giản, chúng ta đã khiến nó mang lại cảm giác dễ chịu. Chúng ta chấp nhận cookie trên mọi trang web mình truy cập, ký điều khoản dịch vụ mà không đọc, bật chia sẻ vị trí, đăng ảnh bữa ăn và làm vlog về cuộc sống hằng ngày cho những khán giả vô hình. Chúng ta đo lường bản thân qua dashboard và chỉ số. Chúng ta theo dõi bước chân, giao dịch, chiến thắng, điểm số giấc ngủ và cả nhịp tim theo đúng nghĩa đen (xin gửi lời chào đến Whoop), rồi gọi đó là “tính minh bạch”.
Tháp canh đã được thay bằng bảng tin. Lính canh đã được thay bằng thuật toán.
Shoshana Zuboff gọi đây là chủ nghĩa tư bản giám sát. Tức là việc thu hoạch và thương mại hóa dữ liệu cá nhân trên quy mô lớn. Thay vì sợ bị phơi bày, chúng ta khao khát điều đó vì hệ thống được thiết kế để biến sự phơi bày thành cảm giác dễ chịu thông qua trò chơi hóa.
Đúng là tôi có thể thấy thêm vài quảng cáo được nhắm mục tiêu, còn Amazon sẽ giỏi đến đáng sợ trong việc đề xuất cuốn sách tiếp theo tôi nên đọc, nhưng chắc chắn tất cả đều vô hại, phải không? Không. Chẳng hạn, Cambridge Analytica là công ty tư vấn chính trị của Anh hoạt động từ năm 2013 đến 2018. Họ khét tiếng vì thu thập dữ liệu người dùng từ Facebook rồi kết hợp với hồ sơ tâm lý để dự đoán và tác động đến hành vi cử tri. Ý tưởng là nếu biết một người thích và không thích gì, bạn bè của họ là ai, họ nhấp vào đâu và làm những bài trắc nghiệm nào cho vui, bạn có thể cho họ xem quảng cáo chính trị được cá nhân hóa để thay đổi quan điểm. Cambridge Analytica tham gia cuộc trưng cầu dân ý năm 2016 về tư cách thành viên Liên minh châu Âu của Vương quốc Anh, hỗ trợ các cử tri “có thể thuyết phục” bỏ phiếu rời EU (hãy nhìn xem kết quả ra sao). Cambridge Analytica cũng tham gia chiến dịch của Trump trong vòng sơ bộ của Đảng Cộng hòa và mùa hè năm 2016 (hãy nhìn xem kết quả ra sao). Cambridge Analytica còn can dự chính trị vào các cuộc bầu cử ở Úc, Ấn Độ, Kenya, Malta và Mexico cùng nhiều nơi khác; năm 2018, các lãnh đạo của công ty nói rằng họ đã làm việc trong hơn 200 cuộc bầu cử trên toàn thế giới. Tình hình càng đáng ngại khi công ty mẹ của họ, SCL Group, từng tham gia các chiến dịch tâm lý với Bộ Quốc phòng Vương quốc Anh. Có thể nói chắc chắn rằng vấn đề không chỉ là thêm vài quảng cáo được nhắm mục tiêu.
Đến đây, tôi có cảm giác như mình đang đội mũ giấy bạc và phun ra những lời nhảm nhí kiểu thuyết âm mưu, nhưng tất cả đều được ghi chép đầy đủ, cho thấy một điều đen tối hơn nhiều. Chúng ta không chỉ bị theo dõi nữa—chúng ta đang bị mô hình hóa.
Điều Foucault không bao giờ có thể dự đoán là các đối tượng bị giám sát sẽ trở thành kiến trúc sư của nó. Panopticon không còn bị áp đặt từ trên xuống. Chúng ta tự xây dựng nó, từng pixel, từng bài đăng, từng lượt thích. Thứ bắt đầu là mạng xã hội đã trở thành kỹ thuật xã hội. Logic tương tự tiếp diễn khi tài chính được số hóa.
Trớ trêu thay, crypto đã nâng điều này lên hình thức cao nhất và thuần túy nhất. Mọi giao dịch và địa chỉ đều hiển thị với tất cả mọi người. Blockchain đã trở thành một dạng panopticon phi tập trung; hiện thân của tính minh bạch. Chúng ta tạo ra khả năng bị đọc hiểu ở mức cực đại bằng cách sao chép tháp canh trên mọi node. Bất kỳ ai cũng có thể thấy mọi thứ, mãi mãi, “đề phòng khi cần”.
Điều này tạo ra một nền kinh tế đạo đức nơi quyền riêng tư trở nên đáng ngờ. Tại sao bạn che giấu số tiền giao dịch? Tại sao bạn vừa dùng Tornado Cash? Tại sao bạn chuyển tài sản sang Monero?
Bất khả kiến tức là nguy hiểm.
Hệ thống không bắt đầu từ crypto, nhưng crypto đã hoàn thiện nó. Để hiểu cách chúng ta đi đến tình trạng hiện tại, phải quay lại thời điểm Bitcoin ra đời.
Lời hứa tan vỡ của Bitcoin: Khuếch đại panopticon
Bitcoin không ra đời để nổi dậy chống chủ nghĩa tư bản giám sát; nó ra đời để nổi dậy chống sự bất khả kiến. Năm đó là 2008: thế giới phải chịu đựng những gian nan khi hệ thống tài chính toàn cầu sụp đổ dưới sức nặng của chính sự phức tạp và tự mãn của nó. Các ngân hàng sụp đổ, chính phủ in tiền, còn những người phải thanh toán hóa đơn được bảo rằng tổ chức đó “quá lớn để sụp đổ”.
Bitcoin là phản ứng trước hộp đen của nền tài chính hiện đại. Một phản ứng trước hệ thống trung gian bất khả kiến đến mức sụp đổ dưới chính những lời dối trá của nó. Giải pháp được đưa ra là tính minh bạch triệt để: một sổ cái công khai không thể bị thao túng mà mọi người đều có thể xem và sử dụng để đạt đồng thuận về sự thật. Câu trả lời “đừng tin, hãy xác minh” của Satoshi Nakamoto vừa đơn giản vừa có sức công phá lớn. Block đầu tiên mang một thông điệp được chôn trong mã nguồn: The Times 03/Jan/2009 Chancellor on brink of second bailout for banks.
Tuy nhiên, trong nỗ lực cao cả nhằm khiến tham nhũng trở thành điều bất khả thi, Bitcoin đã khiến giám sát trở thành điều tất yếu. Nó tồn tại như một tượng đài vĩnh viễn cho hoạt động của con người. Dữ liệu từng bị tích trữ sau các lớp tuân thủ, paywall và kho lưu trữ nay được cung cấp cho tất cả mọi người. Mức độ minh bạch chưa từng có này đã tự động hóa việc giám sát thay vì giải phóng chúng ta khỏi nó.
Kết quả là sự ra đời của một tầng lớp giáo sĩ mới gồm các cá nhân, công ty và tổ chức có khả năng biến sổ cái bất biến của Bitcoin thành một giao diện toàn cảnh. Điều này trở nên rõ ràng đến đau đớn vào năm 2022 trong các cuộc biểu tình của tài xế xe tải thời COVID tại Ottawa. Khi người biểu tình tập hợp phản đối quy định bắt buộc tiêm vaccine, chính phủ Canada viện dẫn quyền hạn khẩn cấp để đóng băng tài khoản ngân hàng của cả người biểu tình lẫn nhà tài trợ. Các ví Bitcoin dùng để tài trợ đoàn xe bị đưa vào danh sách đen, truy vết và tịch thu.
Sai lầm của Bitcoin—sai lầm nghiêm trọng nhất của nó—là nhầm lẫn tính minh bạch với niềm tin. Minh bạch là đức tính dành cho các tổ chức, không phải cá nhân. Khi áp dụng vào đời sống con người, nó trở thành hệ thống cưỡng chế mềm vì tạo ra một nền kinh tế đạo đức nơi quyền riêng tư bị nghi ngờ. Hãy nói cùng tôi: bất khả kiến tức là nguy hiểm.
Dĩ nhiên, Bitcoin không hoàn toàn tệ. Đây là hệ thống thanh toán trực tuyến ngang hàng đầu tiên loại bỏ nhu cầu sử dụng bên trung gian để xác thực giao dịch. Nguồn gốc của nó nằm ở những siêu lập trình viên bí ẩn, những người tiên phong mở ra các biên giới mới trong mật mã học và mã hóa để duy trì quyền riêng tư. Ý tưởng là mã hóa chính là công cụ bảo vệ quyền riêng tư—một công cụ có “khả năng cho phép mỗi người chủ động tiết lộ bản thân với thế giới.” Những siêu lập trình viên bí ẩn này được gọi là cypherpunk.
Các cypherpunk
Trong thời đại mà phần lớn mọi người mới chỉ khám phá kết nối dial-up, một mailing list chắp vá gồm lập trình viên, nhà mật mã học, người theo chủ nghĩa tự do cá nhân, người theo chủ nghĩa vô chính phủ, hacker và những học giả chuyên đăng bài gây tranh cãi đã hiểu rằng thế giới số sẽ trở thành chiến trường chính của tự do.
Khi đó, mã hóa mạnh được chính phủ Hoa Kỳ phân loại là vũ khí theo các quy định kiểm soát xuất khẩu từ thời Chiến tranh Lạnh, vốn được thiết kế để ngăn các tiến bộ công nghệ rơi vào tay Khối Đông Âu. Vì vậy, bất kỳ ai tự do thực hiện mã hóa đều bị đối xử như thể đang vận chuyển uranium yellowcake cho phe Cộng sản. Điều này dẫn đến chiếc áo phông vũ khí khét tiếng của Adam Back, in mã nguồn mã hóa RSA bị hạn chế xuất khẩu như một hành động phản đối vì quyền tự do ngôn luận, và hình xăm chuỗi mã hóa RSA của Richard White. Với sự xuất hiện của máy tính cá nhân, cùng phần mềm mã hóa PGP của Phil Zimmermann và việc nó được phân phối trên Internet, chúng ta rơi vào một tình thế pháp lý bấp bênh. Trong khi đó, NSA âm thầm thúc đẩy việc cài cửa hậu vào mọi thiết bị, tiêu chuẩn và giao thức. Những lợi ích xung đột, các cuộc phản đối và sự phổ biến của mã hóa đã dẫn đến “cuộc chiến crypto” đầu tiên, khi “crypto” còn có nghĩa là mật mã học chứ không phải “giá tăng”.
Các cypherpunk lập luận rằng quyền riêng tư là điều kiện tiên quyết của tự do—không phải thứ xa xỉ, một mối quan tâm hay lĩnh vực ngách, mà là tiền đề của nhân vị trong thời đại số. Họ nói rằng nếu công nghệ giám sát khả thi, các chính phủ sẽ sử dụng nó rộng rãi, và họ đã đúng. Vì vậy, sự phản kháng có ý nghĩa duy nhất là phản kháng bằng công nghệ. Không phải qua biểu tình hay chính sách, mà qua mã nguồn.
Trong Tuyên ngôn Cypherpunk (1993), Eric Hughes lập luận rằng “[q]uyền riêng tư là điều cần thiết cho một xã hội cởi mở trong thời đại điện tử.” Ông tiếp tục nói rằng “[c]húng ta không thể mong đợi chính phủ, doanh nghiệp hay các tổ chức lớn khác trao cho mình quyền riêng tư… chúng ta phải tự bảo vệ quyền riêng tư nếu mong muốn có được nó.” Chúng ta cần tự bảo vệ quyền riêng tư của mình.
Các cypherpunk tiếp tục xây dựng những nguyên mẫu đầu tiên của thứ ngày nay chúng ta gọi là crypto:
- David Chaum phát minh tiền kỹ thuật số và bằng chứng không tiết lộ thông tin
- Nick Szabo là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về smart contract
- Wei Dai đề xuất b-money, một hệ thống phân tán ẩn danh giống Bitcoin đến kỳ lạ
- Adam Back tạo ra Hashcash, một cơ chế Proof of Work để chống thư rác
- Hal Finney phát triển một hệ thống Proof of Work có thể tái sử dụng bằng Hashcash, trước Bitcoin năm năm
Họ là những người phá hoại tìm cách thiết kế các hệ thống mà nhà nước không thể quản lý, chứ không phải những hệ thống cuối cùng sẽ được nhà nước tán thành thông qua ETF và quỹ hưu trí. Bitcoin kế thừa kỹ thuật mật mã của họ, nhưng không kế thừa quan điểm chính trị.
Quyền riêng tư luôn là mục tiêu của các cypherpunk. Họ muốn khả năng không thể bị quan sát. Họ muốn các giao dịch không để lại dấu vết công khai, liên lạc không thể truy vết, danh tính tách rời khỏi hành vi và khả năng phối hợp mà không tạo ra khí thải hành vi để nhà nước hoặc doanh nghiệp kiếm tiền. Bitcoin được xây dựng dựa trên công trình của họ để giải quyết vấn đề chi tiêu hai lần, nhưng khi làm vậy, nó đã hy sinh sự bất khả kiến.
Đây hoàn toàn có thể là hiện thực của chúng ta ngày nay. Hãy lấy Chaum làm ví dụ: ông phát minh chữ ký mù và tiền kỹ thuật số ẩn danh vào năm 1982, nhiều năm trước khi Internet được mở cho công chúng. Ông thành lập DigiCash vào đầu thập niên 1990, ký được thỏa thuận với Deutsche Bank và phát triển hệ thống thanh toán điện tử hoạt động được, không thể truy vết. Công nghệ đã hoạt động. Các ngân hàng có hứng thú. Cơ sở hạ tầng cho một nền kinh tế số riêng tư đã tồn tại trước khi phần lớn mọi người từng nghe nói đến World Wide Web.
Đáng buồn thay, DigiCash phá sản vào năm 1998. Khi đó chưa ai cảm thấy cần đến nó vì Internet vẫn còn mới lạ và chưa trở nên săn mồi. Mọi người không lo bị theo dõi—họ muốn được nhìn thấy. Chính xung lực sau này thúc đẩy auto-panopticon đã tồn tại ở dạng phôi thai, chờ bùng lan như cháy rừng khi mạng xã hội xuất hiện. Chaum đang bán phương thuốc cho một căn bệnh mà không ai tin, hay thực tế là biết, mình mắc phải. Thế giới bước tiếp và chọn thẻ tín dụng cùng PayPal—tiện lợi, tập trung, có thể truy vết. Quyền riêng tư đã có sẵn, nhưng chúng ta chọn giám sát vì nó dễ dàng hơn.
Hal Finney tiếp tục mạch tư tưởng này. Ông là một cypherpunk từ những ngày đầu tiên của mailing list, nghiên cứu các công cụ mật mã giúp tiền phi tập trung trở thành hiện thực. Hệ thống Proof of Work có thể tái sử dụng của Finney là tiền thân trực tiếp của Bitcoin. Khi Satoshi Nakamoto công bố whitepaper Bitcoin, Finney nằm trong số ít người tò mò. Ông là người đầu tiên nhận được một giao dịch Bitcoin: 10 BTC do chính Satoshi gửi vào ngày 12 tháng 1 năm 2009. Finney tận mắt chứng kiến cả lời hứa lẫn sự thỏa hiệp của Bitcoin và vẫn là người kiên định ủng hộ quyền riêng tư trong các hệ thống số cho đến khi qua đời năm 2014.
Bitcoin ra đời trong một cộng đồng quyết liệt đấu tranh cho sự bất khả kiến. Satoshi cần giải quyết vấn đề chi tiêu hai lần mà không cần bên thứ ba đáng tin cậy. Giải pháp thật tinh tế (tức một sổ cái công khai mà mọi người đều có thể xác minh). Tuy nhiên, đó là một giao kèo với quỷ. Kỹ thuật mật mã mang tinh thần cypherpunk. Kiến trúc mang tinh thần cypherpunk. Nhưng khả năng bị đọc hiểu lại đối lập với mọi điều mà các cypherpunk đấu tranh bảo vệ.
Khả năng xác minh mà không cần niềm tin cũng đồng nghĩa với giám sát mà không cần nỗ lực. Mọi giao dịch, địa chỉ và dòng chảy giá trị được ghi lại vĩnh viễn để tất cả cùng thấy. Những thuộc tính khiến Bitcoin không thể bị thao túng cũng khiến nó hoàn hảo cho điều tra pháp chứng. Bitcoin đã tái tạo auto-panopticon ở cấp giao thức. Tính minh bạch được thiết kế để buộc các tổ chức chịu trách nhiệm lại trở thành cơ chế buộc các cá nhân chịu trách nhiệm. Sự xuất hiện của các công ty phân tích on-chain, lệnh trừng phạt của OFAC và những nỗ lực mới của cơ quan thực thi pháp luật là điều tất yếu.
Phản ứng của ngành trước tất cả những điều này là thương mại hóa quyền riêng tư thay vì khôi phục nó. Mua Zcash trên Coinbase không biến bạn thành cypherpunk. Quyền riêng tư bị xem như một sản phẩm, dù đó là token bạn mua hay tính năng bạn bật. Các cypherpunk nhìn nhận khác. Họ hình dung quyền riêng tư là trạng thái mặc định của sự tồn tại số, một điều kiện nền tảng đến mức sự vắng mặt của nó mới cần được biện minh. Số ít người vẫn xây dựng với niềm tin đó lại bị truy tố thay vì được tôn vinh.
Cuộc chiến xây dựng với quyền riêng tư là ưu tiên hàng đầu
Các cuộc chiến pháp lý
Tháng 8 năm 2022, Văn phòng Kiểm soát Tài sản Nước ngoài thuộc Bộ Tài chính Hoa Kỳ áp lệnh trừng phạt Tornado Cash, điều nghe hoàn toàn vô lý với những người hiểu về blockchain và smart contract. Tornado Cash là một tập hợp smart contract bất biến trên Ethereum, phá vỡ mối liên kết truyền thống giữa người gửi và người nhận bằng cách gộp tiền của nhiều người dùng rồi cho phép họ rút số tiền tương đương về ví mới. Nói ngắn gọn, Tornado Cash là một dịch vụ trộn tiền mã hóa phi tập trung hoạt động trên Ethereum để bảo vệ quyền riêng tư cho người dùng.
Đây là lần đầu tiên OFAC trừng phạt mã tự vận hành.
Hai ngày sau khi lệnh trừng phạt được áp dụng, nhà chức trách Hà Lan bắt giữ Alexey Pertsev, người đã viết và công bố mã nguồn Tornado Cash. Tháng 5 năm 2024, ông bị kết án hơn năm năm tù. Một năm sau, Hoa Kỳ truy tố các nhà đồng sáng lập Roman Storm và Roman Semenov về tội rửa tiền, vi phạm lệnh trừng phạt và vận hành dịch vụ chuyển tiền không giấy phép. Tính đến tháng 6 năm 2026, cuộc chiến pháp lý này vẫn đang tiếp diễn.
Tornado Cash không bao giờ lưu ký tiền. Các hợp đồng cốt lõi của nó là bất biến, nghĩa là Pertsev, Storm hoặc Semenov không thể đóng chúng dù có muốn. Lập luận của chính phủ về bản chất là việc công bố mã bảo vệ quyền riêng tư và duy trì một trang web trỏ đến mã đó cấu thành hành vi “vận hành” một doanh nghiệp tài chính.
Tháng 8 năm 2025, một bồi thẩm đoàn tại Quận Nam New York kết tội Storm về cáo buộc chuyển tiền không giấy phép nhưng không đạt đồng thuận về hai cáo buộc còn lại. Bộ Tư pháp đang thúc đẩy xét xử lại các cáo buộc mà bồi thẩm đoàn chưa thể thống nhất.
Tại phiên điều trần vào tháng 4 đầu năm nay, thẩm phán chủ tọa hỏi một công tố viên liệu chỉ riêng việc tạo ra Tornado Cash có phải là tội phạm hay không, và công tố viên trả lời là không. Chính phủ Hoa Kỳ cho rằng việc duy trì nó là bất hợp pháp vì một dịch vụ trộn tiền che giấu tiền bất hợp pháp hiệu quả hơn khi nó cũng chứa lượng lớn crypto “sạch”. Nếu theo logic này đến kết luận tự nhiên, việc phục vụ những người dùng tuân thủ pháp luật chỉ muốn có quyền riêng tư tự thân đã là bằng chứng cho hành vi tiếp tay rửa tiền. Việc sử dụng quyền riêng tư hợp pháp bị diễn giải lại thành lớp ngụy trang cho hành vi bất hợp pháp.
Giờ hãy nói cùng tôi: bất khả kiến tức là nguy hiểm.
Một vụ án khác của DOJ, vụ Samourai Wallet, kết thúc ít mơ hồ hơn. Keonne Rodriguez và William Lonergan Hill, những người xây dựng ví Bitcoin không lưu ký với tính năng bảo vệ quyền riêng tư dựa trên CoinJoin, đã nhận tội để tránh nguy cơ ngồi tù hàng chục năm. Rodriguez nhận án năm năm, còn Hill nhận án bốn năm.
Chỉ vài ngày sau khi các nhà phát triển Samourai bị bắt, Wasabi Wallet chặn người dùng Hoa Kỳ rồi nhanh chóng ngừng hoàn toàn dịch vụ trộn tiền. Phoenix Wallet, một ví Lightning tự lưu ký không vướng vấn đề pháp lý nào được biết đến, rút khỏi các cửa hàng ứng dụng tại Hoa Kỳ. Sparrow Wallet vô hiệu hóa tích hợp Whirlpool một ngày sau bản cáo trạng. Không ai ra lệnh thực hiện những điều này, nhưng hai vụ truy tố đã răn đe cả ngành. Đó là vì các tù nhân không thể biết mình có đang bị theo dõi hay không, nên họ hành xử như thể lúc nào cũng bị theo dõi.
Trong khi đó, Monero, vốn tích hợp quyền riêng tư vào giao thức thay vì gắn thêm ở lớp trên, đã bị đẩy khỏi thế giới được quản lý. Hết sàn giao dịch này đến sàn khác hủy niêm yết Monero dưới áp lực pháp lý. Chẳng hạn tại châu Âu, lập trường này được pháp điển hóa theo quy định Thị trường Tài sản Crypto (MiCA) của EU, cụ thể là Quy định 2023/1114, Điều 76(3), cấm các nhà cung cấp tài sản crypto phục vụ những đồng tiền tăng cường tính ẩn danh trừ khi có thể xác định danh tính người nắm giữ và lịch sử giao dịch tương ứng. Quy định chống rửa tiền mới của EU, Quy định (EU) 2024/1624, tìm cách thực thi lập trường này từ ngày 10 tháng 7 năm 2027, yêu cầu nhà cung cấp duy trì mối liên hệ giữa người nắm giữ và giao dịch của họ.
Mô thức này không thể nhầm lẫn: quyền riêng tư ở lớp ứng dụng khiến bạn bị truy tố; quyền riêng tư ở cấp giao thức khiến bạn bị hủy niêm yết. Tuy nhiên, nhà nước không phản đối crypto—họ đang đón nhận nó thông qua ETF, stablecoin, RWA và kho dự trữ chiến lược. Sự phản đối nhắm riêng vào tính bất khả kiến. Crypto nhìn chung được hoan nghênh miễn là nó vẫn là công cụ giám sát hoàn hảo.
Cơ sở pháp lý cho tất cả những điều này kém vững chắc hơn những vụ truy tố kể trên cho thấy. Cuối năm 2024, Tòa Phúc thẩm Khu vực 5 phán quyết trong vụ Van Loon kiện Bộ Tài chính rằng các hợp đồng bất biến như của Tornado Cash không phải “tài sản” của bất kỳ quốc gia nước ngoài nào và do đó không thể bị trừng phạt theo luật hiện hành. Đến tháng 3 năm 2025, Bộ Tài chính đã xóa hoàn toàn Tornado Cash khỏi danh sách trừng phạt. Thật phi lý; bản thân mã nguồn đã được phục hồi tư cách pháp lý, trong khi những lập trình viên viết ra nó phải đối mặt với việc xét xử lại. Công cụ không còn bị trừng phạt, nhưng người tạo ra công cụ thì vẫn bị. Đây không phải hành vi của một hệ thống tự tin vào lý thuyết pháp lý của mình. Đúng hơn, đó là hành vi của một hệ thống muốn biến ai đó thành tấm gương răn đe.
Các cuộc chiến triết học
Trọng tâm của các lập luận pháp lý này là quan niệm rằng những công cụ đó được dùng để rửa tiền, né tránh lệnh trừng phạt và làm những việc tồi tệ hơn. Không người nghiêm túc nào phủ nhận điều này. Tuy nhiên, lập luận đó giả định rằng một công cụ nên bị cấm vì tội phạm sử dụng nó.
Tiền mặt là công nghệ bảo vệ quyền riêng tư nguyên bản. Đây là một công cụ vô danh dành cho người cầm giữ, có thể đổi chủ mà không để lại hồ sơ, không xác định người gửi hay người nhận và được thanh toán tức thì mà không cần trung gian. Về cơ bản, nó là phương thức thanh toán cho mọi tội phạm đường phố trong lịch sử loài người. Theo logic của vụ Tornado Cash, tiền mặt là một doanh nghiệp chuyển tiền không giấy phép có quy mô khổng lồ, còn Bộ Tài chính in ra nó chính là đơn vị vận hành.
Mã hóa đầu cuối liên tục phải vượt qua cùng một thử thách. Cứ vài năm, dường như các chính phủ lại khám phá ra rằng những kẻ khủng bố sử dụng ứng dụng như Signal và đòi hỏi một cửa hậu cho “người tốt”; rồi cứ vài năm, các nhà mật mã học lại kiên nhẫn giải thích rằng cửa hậu cho người tốt cũng là cửa hậu cho tất cả mọi người. Phần lớn chúng ta nhận ra lập luận này mang tính độc tài khi nó nhắm vào hoạt động liên lạc, nhưng bằng cách nào đó lại bị thuyết phục rằng nó thận trọng khi nhắm vào tiền bạc. Dù các mối quan hệ tài chính có thể ít riêng tư hơn tin nhắn văn bản, việc tiết lộ bạn gửi tiền cho ai, khi nào, bao nhiêu và với tần suất ra sao có thể tạo nên một trong những dấu vết dữ liệu tiết lộ nhiều nhất về một người.
Năm 2025, Bộ Nội vụ Vương quốc Anh bí mật gửi Apple một “thông báo về năng lực kỹ thuật” theo Đạo luật Quyền Điều tra, yêu cầu quyền truy cập cửa hậu vào dữ liệu iCloud được mã hóa. Apple đã rút hoàn toàn tính năng mã hóa mạnh nhất của mình (tức Advanced Data Protection) khỏi Vương quốc Anh thay vì xây dựng cửa hậu. Cuối năm 2025, chính phủ đơn giản là gia hạn yêu cầu. Việc tiết lộ rằng một yêu cầu như vậy đã được đưa ra là hành vi phạm tội. Nhà nước đòi hỏi “tính minh bạch” từ công dân trong khi hình sự hóa sự minh bạch về chính mình.
Còn ô tô thì sao? Có nên cấm chúng vì tài xế tẩu thoát sử dụng chúng không? Còn Internet thì sao? Pháp luật Hoa Kỳ từ lâu đã công nhận nguyên tắc về công nghệ lưỡng dụng: một công cụ có nhiều công dụng hợp pháp không tự nhiên trở thành hàng cấm chỉ vì tội phạm cũng sử dụng nó. Chúng ta áp dụng nguyên tắc này ở mọi nơi, dường như ngoại trừ cơ sở hạ tầng bảo vệ quyền riêng tư tài chính.
Bằng chứng thực nghiệm còn tệ hơn, vì tội phạm tài chính trên blockchain luôn nhỏ bé so với hoạt động bất hợp pháp trong hệ thống ngân hàng truyền thống. Chúng ta đã quên rằng HSBC chuyển hàng trăm triệu USD cho cartel Sinaloa rồi chỉ nhận một thỏa thuận hoãn truy tố và khoản tiền phạt sao? Chúng ta đã quên rằng chi nhánh Estonia của Danske Bank đã luân chuyển khoảng hai trăm tỷ euro trong các dòng tiền đáng ngờ sao? Không giám đốc nào xây dựng những đường ống đó từ laptop, và cũng không giám đốc nào đối mặt với những gì Roman Storm đang đối mặt. Các tổ chức rửa tiền trên quy mô lớn chỉ bị phạt như một chi phí kinh doanh. Những nhà phát triển viết mã bảo vệ quyền riêng tư cho người bình thường lại bị bỏ tù để răn đe.
Loại bỏ các công cụ bảo vệ quyền riêng tư không loại bỏ quyền riêng tư của tội phạm. Tội phạm tinh vi có các khu vực pháp lý, cấu trúc công ty bình phong và chuyên gia để lo việc đó. Nó chỉ loại bỏ quyền riêng tư của tất cả những người khác không đủ khả năng chi trả cho những thứ ấy; nói cách khác, nó giúp kẻ quyền thế duy trì trạng thái bất khả kiến trong khi khiến phần còn lại trong chúng ta bị nhìn thấu.
Câu hỏi chưa bao giờ là liệu kẻ xấu có sử dụng công cụ bảo vệ quyền riêng tư hay không. Câu hỏi là liệu sự tồn tại của kẻ xấu có biện minh cho việc xóa bỏ quyền riêng tư của tất cả những người khác hay không. Mọi thế hệ trước chúng ta, khi đối diện với tiền mặt, thư niêm phong, rèm cửa, xe tẩu thoát và Internet, đều đồng thanh trả lời không.
Chúng ta là thế hệ đầu tiên bị thuyết phục phải trả lời có.
Con đường thực sự dẫn đến thay đổi
Cái bẫy khi viết một bài luận ở quy mô này là chẩn đoán mang tính bao trùm đến mức mọi đơn thuốc đều có vẻ không thỏa đáng. Fisher gọi tên căn bệnh với độ chính xác đầy sức công phá và kết thúc tác phẩm nền tảng về chủ nghĩa hiện thực tư bản bằng một gợi ý về nền chính trị đang tái xuất mà ông chưa bao giờ có thể diễn đạt trọn vẹn. Han chẩn đoán tâm lý chính trị một cách xuất sắc và đưa ra chủ nghĩa ngu ngốc như một cách phản kháng, điều phù hợp một cách kỳ lạ với diễn ngôn hiện tại về “retardmaxxing”. Từ từ idiotes trong tiếng Hy Lạp, Han tạo ra thuật ngữ chỉ người sống riêng tư từ chối bước vào quảng trường công cộng. Chúng ta có quyền không tạo ra năng suất, không bị lập chỉ mục và không thể bị đọc hiểu.
Đây là câu trả lời đúng.
Tuy nhiên, như cách Han trình bày, đây là một tư thế thẩm mỹ chứ không phải chương trình hành động. Làm sao một người thực sự có thể sống mà không bị lập chỉ mục khi chỉ mục là tầng nền của đời sống kinh tế? Han không nói. Nếu chúng ta chỉ đơn giản từ chối tạo ra năng suất, panopticon vẫn sẽ tiếp tục tồn tại.
Những đòn bẩy quen thuộc cũng không tốt hơn. Vận động hành lang mạnh hơn, bầu ra các cơ quan quản lý thân thiện hơn và pháp điển hóa biện pháp bảo vệ nhà phát triển đều có ý nghĩa ở mức biên. Quyết định của Tòa Phúc thẩm Khu vực 5 về định nghĩa “tài sản” theo luật chỉ là một chi tiết kỹ thuật mà Quốc hội có thể sửa đổi trong một buổi chiều. Những quyền phụ thuộc vào sự kiềm chế của nhà nước không phải là quyền—chúng là sự cho phép, tất cả đều có thể bị thu hồi theo ý thích của chính quyền tiếp theo.
Quyền riêng tư cũng không thể được cứu bằng tiêu dùng. Mua đúng đồng tiền, bật đúng tính năng và đăng ký đúng VPN sẽ không giải quyết được vấn đề. Bản thân kênh tiêu dùng chính là hoạt động giám sát. Phản kháng không phải một danh mục sản phẩm.
Các cypherpunk có tầm quan trọng tối thượng với chúng ta vì khác với Fisher và Han, họ đưa ra một phương thức thực hành rõ ràng: cơ sở hạ tầng dưới dạng mã nguồn. Mục tiêu là tích hợp quyền riêng tư vào tầng nền của đời sống số, nơi sự bất khả kiến là điều kiện thông thường chứ không phải lựa chọn lệch chuẩn; một thứ không thể bị đạo đức hóa để chống lại hoặc bán lại dưới dạng tính năng cao cấp. Chủ nghĩa ngu ngốc của Han là điều mà cơ sở hạ tầng cypherpunk biến thành khả thi về mặt vật chất. Sự bất khả kiến ở cấp giao thức là tiền đề cho nhân vị ở cấp con người.
Công bằng mà nói, nhà nước hiểu điều này hoàn toàn rõ ràng. Đó chính là bản chất của các vụ truy tố. Việc xét xử lại Storm, các bản án Samourai, việc hủy niêm yết Monero và kế hoạch xóa bỏ tính ẩn danh của EU đều là hành động của một hệ thống đã xác định đúng cơ sở hạ tầng quyền riêng tư là mối đe dọa chính trị. Năm 1993, các cypherpunk đánh cược rằng mã nguồn là hình thức phản kháng có ý nghĩa duy nhất, và ba mươi năm sau, những người nỗ lực mạnh nhất để đàn áp nó đang chứng minh bằng thực nghiệm rằng canh bạc ấy là đúng.
Hồi sinh tinh thần cypherpunk
Con đường phía trước không có gì mới. Đó là sự trở lại lập trường ban đầu với các công cụ tốt hơn nhiều: quyền riêng tư là trạng thái mặc định của sự tồn tại số, một điều kiện nền tảng đến mức sự vắng mặt của nó mới cần được biện minh.
Thương vụ Helius mua lại Light Protocol, đội ngũ đã tạo ra các syscall không tiết lộ thông tin đầu tiên của Solana và xây dựng ZK Compression, kết hợp kỹ thuật mật mã với khả năng phân phối quy mô lớn chưa từng có. Loại công cụ mà các cypherpunk từng mơ ước sẽ sớm được cung cấp cho toàn thế giới ở quy mô lớn trên Solana.
Phản đối hiển nhiên là: chẳng phải bài luận này vừa lập luận rằng mọi hành động phản kháng đều trở thành một danh mục sản phẩm sao? Rằng chúng ta không thể cứu quyền riêng tư chỉ bằng tiêu dùng? Đúng, nhưng sự khác biệt rất quan trọng. Quyền riêng tư dưới dạng sản phẩm là một token bạn mua, một tính năng bạn bật, một lời thú nhận khi bạn chọn tham gia. Quyền riêng tư dưới dạng tầng nền là cơ sở hạ tầng: mở cho mọi nhà phát triển, có thể cấu hình cho các ứng dụng khác nhau và được thiết kế để sự bất khả kiến trở thành điều kiện giao dịch thông thường. Cách thứ nhất thương mại hóa tinh thần cypherpunk, còn cách thứ hai đưa nó vào vận hành.
Có một phản đối thứ hai. Chẳng phải quyền riêng tư với khả năng tiết lộ có chọn lọc chỉ là giám sát kèm giấy phép sao? Nếu các hệ thống được che chắn cho phép người dùng chứng minh một số khía cạnh trong giao dịch của họ với kiểm toán viên hoặc đối tác, chẳng phải trò chơi đã nhượng bộ cho yêu cầu tuân thủ rồi sao? Không, các cypherpunk là những người đầu tiên vạch ra ranh giới này. Hughes định nghĩa quyền riêng tư là khả năng chủ động tiết lộ bản thân với thế giới. Điều này giả định có tính chọn lọc. Kiến trúc mà quyền riêng tư đòi hỏi phải chống lại khả năng bị đọc hiểu ngoài ý muốn (tức không có view key toàn cục, không có danh sách đen ở cấp giao thức, không tích hợp hoạt động giám sát vào tầng nền). Khi việc tiết lộ diễn ra, quyền đó thuộc về người dùng; họ chứng minh có chọn lọc, theo quyết định của mình, cho bất kỳ ai mình chọn. Một hệ thống nơi người dùng có quyền quyết định tiết lộ cho ai và khi nào chính là định nghĩa của Hughes đang chạy trên prod. Một hệ thống nơi đơn vị phát hành hoặc nhà nước có thể thấy mọi thứ bất kể lựa chọn của người dùng lại là một panopticon khác. Sự khác biệt đó—giữa việc tiết lộ do người dùng kiểm soát và việc tiết lộ bị áp đặt bất kể ý muốn—là ranh giới phân chia cơ sở hạ tầng quyền riêng tư với hoạt động giám sát khoác lên mình lớp ngụy trang của nó.
Zcash là bằng chứng cho thấy thời điểm đã đến. Trong thập niên đầu tiên, việc che chắn là tùy chọn và hiếm gặp, chỉ bao phủ tỷ lệ một chữ số trong tổng nguồn cung, còn việc tham gia một pool được che chắn tự thân đã bị xem là đáng ngờ. Giờ đây, các ví mặc định sử dụng địa chỉ được che chắn, số lượng tích hợp đã tăng, nguồn cung được che chắn tăng khoảng ba lần lên gần một phần ba tổng lượng ZEC và phần lớn giao dịch hiện đều chạm vào pool được che chắn. Hàng thập niên sau khi DigiCash sụp đổ vì bán phương thuốc cho căn bệnh chưa ai cảm nhận được, giờ đây chúng ta có giá trị thực tự nguyện biến mất khỏi tầm nhìn. Mật mã học chưa bao giờ là điểm nghẽn.
Zcash đang chứng tỏ mình là tiền riêng tư, một phương tiện lưu trữ giá trị được mã hóa trên một chain chuyên dụng. Điều chưa được chứng minh là đời sống kinh tế riêng tư: thanh toán, cho vay, trả lương, tài sản token hóa, được định giá bằng những đồng tiền mọi người thực sự sử dụng, có thể kết hợp với các ứng dụng họ vốn phụ thuộc và vận hành ở quy mô của đời sống thường nhật. Zcash yêu cầu bạn đi đến một nơi riêng tư. Bài toán khó hơn là khiến nơi bạn vốn đang sống trở nên bất khả kiến theo mặc định và chỉ được tiết lộ khi bạn lựa chọn: đời sống kinh tế riêng tư trên những chain mà mọi người đã sử dụng. Solana là một mặt trận, cùng vô số đội ngũ khác trong các hệ sinh thái khác đang xây dựng giải pháp quyền riêng tư. Những đội ngũ này phải được bảo vệ mạnh mẽ cả bằng tiếng nói lẫn nguồn lực thực tế. Việc xét xử lại Storm và tiền lệ mà nó tạo ra sẽ quyết định liệu thế hệ kỹ sư quyền riêng tư tiếp theo sẽ công khai xây dựng hay phải dùng danh tính giả từ các khu vực pháp lý thuận tiện.
Bitcoin chứng minh rằng tiền mật mã là khả thi. Ethereum chứng minh rằng nó có thể lập trình được. Solana chứng minh rằng nó có thể mở rộng đến đại chúng. Điều chưa được chứng minh là nó có thể làm tất cả những điều đó mà vẫn tương thích với nhân vị. Rằng một hệ thống tài chính có thể nhanh, mở và có thể xác minh mà không khiến mọi người tham gia vĩnh viễn bị nhìn thấu. Quyền riêng tư là biên giới mở rộng cuối cùng để đưa tiền mã hóa đến với đại chúng, và đó là điều các cypherpunk đã nhận ra đầu tiên, ba thập niên trước khi phần còn lại trong chúng ta bắt đầu cảm nhận căn bệnh.
Fisher nói quyền lực sâu xa nhất của hệ thống nằm ở việc khiến các lựa chọn thay thế trở nên không thể hình dung. Han nói nó cai trị thông qua quyền tự do trình diễn. Sổ cái nói rằng mọi thứ đều hiển thị, mãi mãi, “đề phòng khi cần”. Để chống lại cả ba, câu trả lời Hughes đưa ra năm 1993 vẫn đầy sức nặng: chúng ta không thể mong đợi chính phủ, doanh nghiệp hay các tổ chức lớn khác trao cho mình quyền riêng tư. Để có quyền tự chủ, để có nhân vị đích thực, chúng ta cần tự bảo vệ nó.
Chúng ta cần xây dựng, vận hành và sử dụng nó.
Bài viết liên quan
Đăng ký nhận tin từ Helius
Luôn cập nhật những thông tin mới nhất về phát triển Solana và nhận thông báo khi chúng tôi đăng bài


